Đái tháo đường thai kỳ thường diễn tiến âm thầm, thai phụ có thể không có bất kỳ biểu hiện bất thường nào nhưng vẫn mắc bệnh. Tầm soát đúng thời điểm, đặc biệt từ tuần 24 đến 28 của thai kỳ, giúp phát hiện sớm, kiểm soát đường huyết và hạn chế nguy cơ biến chứng cho mẹ và bé. Nhân Tuần lễ Làm mẹ an toàn năm 2026, BS.CKI Trần Thị Ngần, Trưởng khoa Sức khỏe sinh sản, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Đồng Nai, chia sẻ những lưu ý về tầm soát và kiểm soát đái tháo đường thai kỳ.
Phóng viên: Thưa bác sĩ, đái tháo đường thai kỳ thường có biểu hiện như thế nào? Có phải thai phụ không có triệu chứng vẫn có thể mắc bệnh?
BS.CKI Trần Thị Ngần: Theo Tổ chức Y tế thế giới, tình trạng tăng glucose huyết tương được phát hiện lần đầu trong thai kỳ được phân thành hai nhóm, đái tháo đường mang thai và đái tháo đường thai kỳ. Trong đó, đái tháo đường mang thai, hay còn gọi là đái tháo đường rõ, là khi mức glucose huyết tương đạt ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn. Còn đái tháo đường thai kỳ là tình trạng tăng glucose huyết tương nhưng mức glucose thấp hơn ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường rõ.

Bác sĩ tư vấn, hướng dẫn thai phụ theo dõi đường huyết và điều chỉnh chế độ ăn uống, vận động phù hợp trong thai kỳ.
Điều đáng lưu ý, đái tháo đường thai kỳ thường không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Vì vậy, ngay cả khi thai phụ cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, vẫn có thể mắc bệnh. Đây cũng là lý do tất cả phụ nữ mang thai cần được tầm soát đái tháo đường thai kỳ để phát hiện sớm và có hướng quản lý phù hợp.
Phóng viên: Thời điểm nào thai phụ nên kiểm tra đường huyết để phát hiện đái tháo đường thai kỳ? Những trường hợp nào cần được tầm soát sớm hơn?
BS.CKI Trần Thị Ngần: Trên thế giới hiện có hai mô hình tầm soát đái tháo đường thai kỳ, gồm tầm soát đại trà và tầm soát chọn lọc. Với những thai phụ có nguy cơ cao, việc tầm soát có thể được thực hiện ngay trong 3 tháng đầu thai kỳ.
Nhóm thai phụ cần được tầm soát sớm gồm: người có BMI thừa cân kèm ít nhất một yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường thế hệ thứ nhất, yếu tố chủng tộc, bệnh tim mạch hoặc tăng huyết áp; người có HbA1C trên 5,7% hoặc tiền đái tháo đường; có tiền sử đái tháo đường thai kỳ ở những lần mang thai trước; tuổi trên 35 hoặc suy giảm miễn dịch.
Đối với 3 tháng giữa thai kỳ, cần được tầm soát đái tháo đường thai kỳ từ tuần 24 đến 28 của tuổi thai. Đây được xem là thời điểm chuẩn, phù hợp nhất để phát hiện những bất thường về chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ, thông qua nghiệm pháp dung nạp 75g glucose.
Vì vậy, thai phụ không nên chờ có triệu chứng mới kiểm tra. Tầm soát đúng thời điểm, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao, giúp phát hiện sớm và có hướng quản lý phù hợp.
Phòng viên: Nếu không được phát hiện và kiểm soát tốt, đái tháo đường thai kỳ có thể ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của mẹ và thai nhi?
BS.CKI Trần Thị Ngần: Đái tháo đường thai kỳ nếu không được kiểm soát tốt có thể làm tăng nguy cơ biến chứng cho cả mẹ, bé và những nguy cơ lâu dài.
Đối với mẹ, bệnh có thể làm giă tăng nguy cơ sẩy thai, thai lưu, sinh non, tăng huyết áp trong thai kỳ, đa ối, nhiễm trùng tiết niệu, viêm đài bể thận và tăng khả năng phải sinh mổ. Về lâu dài, phụ nữ từng mắc đái tháo đường thai kỳ cũng có nguy cơ cao hơn mắc đái tháo đường týp 2 và các biến chứng liên quan, đặc biệt là biến chứng trên các mạch máu nhỏ, ảnh hưởng đến tim, thận và mắt.
Đối với thai nhi và trẻ sơ sinh, đái tháo đường thai kỳ có thể gây tăng trưởng quá mức, thai to; hạ glucose huyết tương và các bệnh lý chuyển hóa ở trẻ sơ sinh; bệnh lý đường hô hấp, trong đó có hội chứng nguy kịch hô hấp; dị tật bẩm sinh và thậm chí tử vong ngay sau sinh…
Đáng lưu ý, ảnh hưởng của đái tháo đường thai kỳ không chỉ dừng lại ở thời điểm mang thai và sinh nở. Về lâu dài, trẻ sinh ra từ các bà mẹ mắc đái tháo đường thai kỳ có nguy cơ béo phì cao hơn, khi lớn có nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2 và rối loạn tâm thần - vận động. Nguy cơ mắc đái tháo đường và tiền đái tháo đường ở nhóm trẻ này có thể tăng gấp 8 lần khi trẻ ở độ tuổi 19-27.
Phóng viên: Khi được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ, thai phụ cần thay đổi chế độ ăn uống, vận động và theo dõi đường huyết như thế nào?
BS.CKI Trần Thị Ngần: Điều trị ban đầu thường tập trung vào điều chỉnh chế độ ăn kết hợp vận động thể lực phù hợp. Nhiều thai phụ có thể kiểm soát đường huyết bằng việc thay đổi lối sống theo hướng dẫn của nhân viên y tế.
Về dinh dưỡng, thai phụ nên chia nhỏ bữa ăn, tăng sử dụng thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp, đồng thời ăn nhiều rau xanh và trái cây. Hạn chế các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao. Song song đó, cần theo dõi glucose huyết tương mao mạch lúc đói và sau ăn 1 hoặc 2 giờ, ghi chép kết quả để bác sĩ đánh giá và điều chỉnh.
Về vận động, có thể duy trì hoạt động thể chất phù hợp, khoảng 30 phút mỗi ngày. Với những người đã tích cực tập luyện trước khi mang thai, nếu tình trạng thai kỳ cho phép, nên duy trì việc tập luyện phù hợp trong suốt thai kỳ.
Điều quan trọng là kiểm soát đái tháo đường thai kỳ không đồng nghĩa với kiêng khem quá mức. Mục tiêu là kiểm soát đường huyết, tăng cân hợp lý và vẫn bảo đảm đầy đủ dinh dưỡng cho cả mẹ và thai nhi.
Phóng viên: Nhân Tuần lễ Làm mẹ an toàn, bác sĩ có khuyến cáo gì đối với phụ nữ mang thai, đặc biệt những người cho rằng mình khỏe mạnh, không có triệu chứng?
BS.CKI Trần Thị Ngần: Phụ nữ mang thai không nên chủ quan ngay cả khi cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh. Đái tháo đường thai kỳ thường diễn tiến âm thầm và có thể chỉ được phát hiện qua xét nghiệm. Vì vậy, một thai phụ không có triệu chứng vẫn có thể mắc bệnh.
Thai phụ cần khám thai định kỳ, thực hiện đầy đủ các xét nghiệm sàng lọc theo hướng dẫn của cán bộ y tế, đặc biệt tầm soát đái tháo đường thai kỳ trong khoảng tuần 24 đến 28, hoặc sớm hơn nếu thuộc nhóm nguy cơ cao.
Phát hiện sớm giúp thai phụ được tư vấn về dinh dưỡng, vận động, theo dõi đường huyết và quản lý thai kỳ phù hợp. Đặc biệt, không nên tự ý bỏ qua xét nghiệm hoặc tự điều chỉnh chế độ điều trị khi chưa có ý kiến của cán bộ y tế, nhằm hạn chế biến chứng cho mẹ và bé.
Thông điệp tôi muốn gửi đến các thai phụ là: “Khỏe mạnh không có nghĩa là không có nguy cơ.” Chủ động khám thai và sàng lọc đúng thời điểm là cách thiết thực để bảo vệ sức khỏe của mẹ và em bé.
Phóng viên: Xin cảm ơn BS.CKI Trần Thị Ngần!
Thanh Quyết (Thực hiện)