Ung thư gan là bệnh nằm trong sáu loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới và nằm trong ba loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam.

Theo số liệu thống kê của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (Globocan) năm 2020, tại Việt Nam số lượng bệnh nhân mắc mới ung thư gan là hơn 26.400 người/năm chiếm 14,5% trong tổng số các bệnh ung thư ở cả hai giới, đặc biệt số lượng nam giới mắc bệnh lên đến gần 20.300 người. Số người tử vong vì căn bệnh này là gần 25.300 người vào năm 2020 chiếm tỷ lệ 20,6% trong tổng số các ca tử vong do ung thư.

Cũng theo cơ quan này, dự đoán trên toàn cầu số ca mắc mới và tử vong hàng năm do ung thư gan sẽ tăng thêm hơn 55% vào năm 2040.

Ung thư gan giai đoạn sớm thường không có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu, bệnh được phát hiện chủ yếu khi người bệnh đi khám sức khoẻ định kỳ. Khi bệnh đã có biểu hiện lâm sàng như gầy sút cân, chán ăn, mệt mỏi, đau hạ sườn phải, vàng da, chướng bụng thì thường bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Bệnh ung thư gan nguy hiểm là thế nhưng người dân có thể chủ phòng tránh được khi nắm rõ các yếu tố nguy cơ. 

Tiêm vắc xin 6 trong 1 (có thành phần viêm gan B) cho trẻ tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Nai.

Một số yếu tố nguy cơ chính của ung thư gan

Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan, trong đó các yếu tố chính phải kể đến là:

Nhiễm vi rút viêm gan B (HBV):  theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016, dựa trên một số nghiên cứu từ 2003 đến 2014, tỉ lệ nhiễm HBV ở người lớn tại Việt Nam khoảng 8,2-19%. Nhiều nghiên cứu chỉ ra nguy cơ mắc ung thư gan ở những người nhiễm HBV cao hơn 15-20 lần so với những người không nhiễm. Vi rút viêm gan B có thể lây truyền qua đường máu, dịch huyết tương hoặc các dịch khác của cơ thể, lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn và từ mẹ sang con.

Nhiễm vi rút viêm gan C (HCV): cũng theo số liệu của WHO năm 2016, dựa trên một số nghiên cứu từ 2003 đến 2014, tỉ lệ nhiễm HCV ở người lớn tại Việt Nam khoảng 1-3,3%. Người mắc vi rút viêm gan C có nguy cơ bị ung thư gan cao gấp 17 lần những người bình thường. Vi rút viêm gan C có thể lây nhiễm từ mẹ sang con hoặc qua sinh hoạt tình dục không an toàn hoặc qua đường máu.

Đồng nhiễm HBV và HCV: làm tăng nguy cơ bị ung thư gan. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B và vi rút viêm gan C cao trong quần thể dân cư nói chung và có gánh nặng bệnh tật cao liên quan đến viêm gan B và C. 

Sử dụng đồ uống có cồn: theo WHO, rượu gây ra khoảng 80% số ca tử vong do các bệnh về gan. Một phân tích gộp trên 19 nghiên cứu tiến cứu ghi nhận nguy cơ ung thư gan tăng 16% ở những người sử dụng từ 3 đơn vị đồ uống có cồn trở lên mỗi ngày và tăng 22% ở những người sử dụng từ 6 đơn vị đồ uống có cồn trở lên mỗi ngày, và nguy cơ này cũng tăng ngay cả khi chỉ sử dụng lượng cồn thấp nhất mỗi ngày. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng người mắc viêm gan B và C có sử dụng đồ uống có cồn cũng làm tăng cao hơn nguy cơ mắc ung thư gan.

Sử dụng thực phẩm bị nhiễm aflatoxin B1: các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ mắc ung thư gan có thể tăng lên khi sử dụng thực phẩm có chứa aflatoxin B1 (loại độc tố của nấm mốc phát triển trên thực phẩm như ngô hoặc các loại hạt như lạc được bảo quản ở nơi nóng ẩm). 

Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, người bệnh tiểu đường và béo phì, hút thuốc lá,…

Các biện pháp phòng ngừa ung thư gan

Đầu tiên là cần tiêm vắc xin chủng ngừa HBV cho trẻ em, nhất là trẻ sơ sinh, đây là cách tốt nhất để ngăn ngừa nhiễm HBV. Tiêm đủ 3 liều vắc xin tạo ra mức kháng thể bảo vệ ở hơn 95% trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh niên. Ở người trưởng thành khi xét nghiệm máu nếu nhận thấy kháng thể viêm gan B yếu thì cần tiêm nhắc lại để đảm bảo hiệu quả phòng bệnh.

Tiếp theo, đối với người nhiễm HBV mạn và có bệnh lý gan đang hoạt động nên điều trị lâu dài và hiệu quả theo chỉ định của bác sĩ.

Đối với những người nhiễm HCV nên điều trị viêm gan vi rút C cho đến khi bệnh nhân đạt được đáp ứng vi rút bền vững (sustained virologic response - SVR). Nguy cơ ung thư gan sẽ giảm đáng kể nếu các bệnh nhân viêm gan vi rút C mạn đạt được SVR. Tuy nhiên, ngay cả khi đạt được SVR, người bệnh lớn tuổi có số lượng tiểu cầu thấp và/hoặc có xơ gan vẫn có nguy cơ ung thư gan cao và cần được tầm soát định kỳ.

Nên điều trị các bệnh lý chuyển hóa như bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu vì các bệnh lý này làm tăng nguy cơ ung thư gan, nhất là khi đã có xơ gan. Điều trị ổn định các hội chứng chuyển hoá, đặc biệt là tiểu đường và béo phì.

Bên cạnh đó, cần hạn chế sử dụng đồ uống có cồn và không hút thuốc lá; hạn chế sử dụng thực phẩm bị nhiễm aflatoxin B1. Thực hành lối sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng hợp lý và luyện tập giúp tăng cường miễn dịch và đồng thời giữ cho vóc dáng cân đối tránh béo phì cũng là cách hữu hiệu để phòng ngừa ung thư gan.

BS. Hồ Thị Hồng

Share with friends

Bài liên quan

Bệnh máu khó đông và cách phòng tránh
Ung thư tuyến giáp có thể chữa khỏi
Bệnh không lây nhiễm: Hồi chuông cảnh báo và đẩy mạnh các biện pháp phòng ngừa
[Toạ đàm] Làm thế nào để thận không bị sỏi?
Chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh suy thận
Ngày Thế giới Phòng chống Ung thư 4/2: Phương pháp giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh ung thư
Không chủ quan với bệnh rối loạn mỡ máu
Người bệnh mạn tính: Vui tết không quên dùng thuốc
Ung thư đại tràng – phát hiện sớm tỷ lệ chữa khỏi cao
8 cách giúp phòng xơ vữa động mạch, ngăn ngừa đột quỵ
Bệnh mạch vành gây biến chứng nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao
[Tọa đàm] Cần làm gì để thận luôn khoẻ mạnh?
Không chủ quan với thủng loét dạ dày, tá tràng ở trẻ
[Tọa đàm] Bệnh đột quỵ và những dấu hiệu nguy hiểm cần lưu ý
Bệnh ung thư đang có xu hướng gia tăng
Dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim trước vài ngày
Ngày Đái tháo đường Thế giới 14/11: [Toạ đàm] Ăn uống hợp lý để kiểm soát bệnh tiểu đường
Ngoài cơn đau thắt ngực, 4 dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim cấp ai cũng nên biết
[Video] Tăng huyết áp ở người cao tuổi – kẻ giết người thầm lặng
Phụ nữ mang thai cần chủ động phòng bệnh đái tháo đường thai kỳ
TUYEN TRUYEN PHAP LUAT
Thủ tục hành chính

TƯ VẤN

Tư vấn tiêm các loại vắc xin:
  02513.899.580 hoặc 02513.846.680
 Tư vấn khám sức khỏe:
  02513.834.493-141
• Tư vấn Quan trắc môi trường - Lấy mẫu nước: 
  02513.835.672-131
• Tư vấn sức khỏe sinh sản:
  02513.942.461
• Tư vấn xét nghiệm nước
- thực phẩm:
  02518.871.681
• Tư vấn dinh dưỡng:
 02513.840.429
• Tư vấn HIV/AIDS:
  02518.872.322

LIÊN KẾT

Bộ Y tế
Cục Y Tế Dự Phòng
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
CONG THONG TIN TINH DONG NAI
Sở Y Tế Đồng Nai
Chương trình Sức khỏe Việt Nam
Bao Dong Nai
Dự án phòng chống Tăng huyết áp
BAO TIN TUC TTXVN